Xuân Giáp Ngọ 2014, Đại lý gạo Miền Tây BÌNH MINH kính chúc toàn thể gia đình các Quý khách hàng lời chúc: SỨC KHỎE & THÀNH CÔNG. GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC - AN KHANG - THỊNH VƯỢNG

18/5/11

Lúa gạo Việt Nam : Cần khẩn cấp một cuộc cách mạng xanh mới

Đồng bằng sông Cửu Long, vựa thóc của Việt Nam, là nơi làm ra một nửa lượng gạo trên toàn quốc, cung ứng gần như toàn bộ gạo xuất khẩu. Nhưng tình hình này có thể sẽ không kéo dài được nữa. Do biến đổi khí hậu, hàng trăm ngàn hecta ruộng đồng bị đe doạ : hạn hán, ngập mặn, lụt lội... Việt Nam không còn cách nào khác hơn là phải thích nghi với những khó khăn. 
 
 
Lúa gạo Việt Nam đang cần khẩn cấp một cuộc cách mạng xanh mới. Đây chính là chủ đề phóng sự của thông tín viên Lucie Moulin, thực hiện tại Việt Nam vào tháng Tư 2011.

Lucie đã xuống tận làng An Bình, tỉnh Sóc Trăng, và gặp được bác Minh, một nông dân 67 tuổi, đang ngồi trong vườn phía sau nhà. Trước đây bác làm ruộng nên biết rất rõ các mối lo âu của nông dân trong vùng :

« Hồi xưa làm dễ hơn, phân xuống ít thôi, thí dụ trồng một công đất thì chỉ rải 5 hay 7 ký phân. Bây giờ thì phải tăng từ một bao đến một bao mấy, năm sáu chục ký lô phân vậy đó. Thành ra đất như bạc màu hay sao đó. Nhưng mà làm cũng vẫn trúng, năng suất vẫn cao, nhưng mà chi phí nhiều hơn. »

Theo bác Minh, hiện giờ công việc trồng lúa không còn được như xưa :

« Thời xưa, mần một công luá, cô bán ra cô có thể mua được hai ba chỉ vàng, nó lãi đó, còn bây giờ không được đâu ! Một phân còn không được nữa. Bởi vì chi phí quá trời nhiều. Nước cũng phải cần kéo lên, chạy bằng máy móc không à ! Chi phí nó nhiều.

Vàng bây giờ bốn năm trăm ngàn một chỉ, mắc quá trời. Làm ruộng, làm vườn chỉ sắm vàng thôi. Vàng lên như vậy thì không ai có ! Mọi lần đi cưới vợ, là cho 1 cây 2 cây, bây giờ giỏi lắm chỉ đôi bông một chỉ…»

Nhờ thời tiết tốt và hàng trăm con kênh rạch, nông dân Đồng bằng sông Cửu Long khi xưa đã tranh thủ được những điều kiện kể như tuyệt hảo, để có được đến 3 vụ mùa mỗi năm. Nhưng ngày nay, thì vụ nào cũng có thể bị thời tiết thất thường phá hủy, khi thì hạn hán kéo dài, khi thì bị lụt lội, lúc thì bị ngập mặn do nước biển tràn vào.

Hai mối đe dọa : biến đổi khí hậu và dân số gia tăng

Những hiện tượng này ngày càng nghiêm trọng hơn. Năm nay ở Đồng bằng, phèn đã thâm nhập vào những khu đất cách bờ biển đến 70 cây số, trong lúc trước đây nước mặn chỉ vào tới 40 cây số mà thôi.
Trong lúc đó thì Việt Nam dự kiến sản xuất nhiều gạo hơn nữa. Các tổ chức quốc tế cũng khuyến khích Việt Nam trong chiều hướng này, vì đó là lương thực cơ bản đối với một nửa dân số thế giới.
Đây là môt thách thức rất lớn, theo ông Lê Văn Bảnh, Giám đốc Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long. Ông nêu bật mối quan tâm về việc phải bảo đảm an toàn lương thực trước nhiều nguy cơ, từ khí hậu biến đổi cho đến dân số gia tăng ở Việt Nam :

« Hiện nay, công việc phát triển sản xuất lúa gạo vẫn có triển vọng. Nhưng không thể lạc quan vì có nhiều rủi ro trong sản xuất nông nghiệp. Có thể vụ này trúng mà vụ sau thì không biết thế nào. Một là do biến đổi khí hậu, do áp lực về sâu bệnh, hai nữa là sự gia tăng dân số. Mỗi năm Việt Nam có khoảng hơn 1 triệu trẻ em ra đời. Dự kiến là đến năm 2020, thì dân số Việt Nam từ 86 triệu hiện nay sẽ lên tới 100 triệu.

Thành ra trong sản xuất, trình độ kỹ thuật, trình độ sản xuất của nông dân đáng lạc quan, trình độ nghiên cứu giống lúa của các nhà khoa học Việt Nam cũng vậy. Nhưng mà yếu tố thiên nhiên khiến ta phải băn khoăn, lo lắng. Lo lắng cho vấn đề đảm bảo an ninh lương thực vì dân số tăng, diện tích trồng trọt giảm, sâu bệnh nhiều.

Vừa qua, Việt Nam xuất khẩu được sáu, bảy triệu tấn gạo. Nhưng mà sáu, bảy triệu tấn gạo cho tới năm 2020, liệu có đủ để nuôi dân hay không, thì đó là một việc rất đáng lo. Ngoài ra, Việt Nam xuất khẩu sáu, bảy triệu tấn gạo, đáp ứng hơn 20% lượng gạo xuất khẩu của thế giới, nhưng có duy trì được mức đó hay không thì còn tùy nhiều yếu tố.

Cho nên nói lạc quan, thì thấy có triển vọng, nhưng mà có rất nhiều băn khoăn cho các nhà khoa học. »

Tìm giống lúa mới thích nghi tốt với hệ quả của biến đổi khí hậu

Tại Viện nghiên cứu của ông Bảnh ở Cần Thơ, các nhà khoa học đang tìm kiếm giống lúa của tương lai, loại lúa có thể kháng cự lại các mối đe dọa mà vẫn đảm bảo năng suất cao cho nông dân. Mở cửa sau chiến tranh, với sự hỗ trợ của Ấn Độ, trung tâm nghiên cứu trải rộng trên phạm vi của cả một ngôi làng, với nhiều kỹ sư, hàng chục phòng thí nghiệm, những thửa ruộng và nhà kính dùng để thử nghiệm. Một nhà nghiên cứu giới thiệu :

« Đây là chỗ mà sau khi lai tạo, chúng ta tiến hành trồng các giống mới, rồi sau đó mới đem ra ruộng. Đây là những giống lúa hoang, lai trồng ở đây là để duy trì cái nguồn lúa hoang, mục đích làm vật liệu trong quá trình lai tạo giống. Đây là loại lúa chống chịu nóng, còn đây là giống kháng chịu mặn. Giai đoạn này là lúc thanh lọc những dòng có khả năng chống chịu mặn với những cấp độ mặn khác nhau. Còn đây là lọc ra những giống luá chống chịu ngập. »

Trung tâm Cần Thơ đã hoàn chỉnh hàng chục giống lúa mới, hầu thích nghi với tình huống. Một số đã được sử dụng ở Đồng bằng sông Cửu Long. Thậm chí còn có một giống được nông dân ở Bangladesh du nhập. Đối với bà Nguyễn Thi Lang, trưởng bộ môn di truyền, các thành tựu đó tuy nhiên chưa đủ :

« Thật ra thì cũng có những giống mà hiệu năng ổn định, năng suất cao, thí dụ như giống OM4900 rồi OM 61- 62. Mấy giống đó hiện được coi như là nền tảng lâu dài cho thương hiệu Việt Nam. Hiện nay, nói chung là bộ môn di truyền đã chọn ra các giống lúa bền vững, lâu dài cho bà con nông dân.

Xu hướng hiện nay là phát triển bền vững. Tất nhiên nói đến bền vững thì phải có những vùng đất phù hợp. Nói về phù hợp thì những vùng mặn quá phải có cái giống chống chiụ mặn mạnh hơn. Thành thử ra nó phải có khác một chút, chứ không phải là phù hợp với cái điều kiện đó. »

Ngoài ra, bà Lang còn nêu một yếu tố nguy hiểm đáng lưu ý. Đó là việc những người nuôi tôm đã đưa nước mặn vào ruộng, phá hủy cả một hệ thống sinh thái. Sau đó thì không còn trồng lúa được ở những thửa ruộng đó nữa :

« Chúng ta cũng biết rằng Đồng bằng sông Cửu Long là nơi rất năng động về kỹ thuật, năng động về sản xuất giống. Do đó về điều kiện canh tác, về điều kiện phân bón v.v… rồi về cơ cấu, như hệ thống canh tác, tức là người ta thay đổi thường xuyên.

Thí dụ như bây giờ người ta đang nuôi tôm. Tôm lỗ, người ta lại muốn trồng lúa. Nhưng khi nuôi tôm, người ta đã dùng đến nước biển, người ta đã mở một cánh đồng rất lớn để đưa nước biển vào. Bây giờ tôm lỗ, thì người ta muốn tiếp tục trồng lúa nếu không thì bỏ trắng. »

Đối với giới nghiên cứu, vấn đề hiện nay không phải chỉ tìm một giống lúa mà cả một gam lúa. Và trong cuộc chạy đua chống lại hệ quả của tình trạng biến đổi khí hậu, các nhà khoa học không chắc sẽ thắng. Những loại lúa thích ứng với nước phèn chẳng mấy chốc sẽ không còn đủ, cần phải tạo thêm nhiều giống mới, có sức đề kháng cao hơn nữa.

Nhiều nhà nghiên cứu như anh Lê Công Khoa, tại Đại học Bách khoa Hà Nội, cho rằng chỉ có lúa chuyển gen mới đủ sức thích ứng với môi trường nước phèn. Có điều Việt Nam là một nước xuất khẩu gạo, nếu lại làm ra loại gạo chuyển gen, thì sẽ gặp vấn đề ! Tuy nhiên, theo anh Khoa, nếu một nửa Đồng bằng sông Cửu Long mà bị phèn hóa, thì cần phải tính tới giải pháp kỹ thuật này để bảo đảm được an toàn lương thực.

Chính quyền Việt Nam dự báo là một nửa diện tích trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập, nếu mực nước biển dâng cao thêm 1 mét. Trường hợp này có thể xẩy ra từ đây đến năm 2100. Cho dù vậy, ông Lê Văn Bảnh ở Viện Lúa Cần Thơ, vẫn tin tưởng là sản lượng gạo của Việt Nam sẽ không bị giảm sụt, với một số điều kiện như hướng dẫn nông dân, hợp tác giữa các thành phần kinh tế, giũa các vùng ở Việt Nam và cả trong khu vực :

«Theo diễn tiến hiện nay, khí hậu biến đổi chậm chậm như vậy, thì mình từ từ tìm ra giải pháp thích nghi. Theo tôi thấy hiện nay nếu không có gì đột xuất, nghiã là không đột biến nhanh như bão lũ, động đất hay gì khác, thì việc ứng phó cũng khả thi. Bởi vì, thứ nhất, về mặt kỹ thuật, mình chọn những giống cây trồng thích nghi được với biến đồi khi hậu thí dụ như là khô hạn, ngập mặn, lũ úng.

Thứ hai là có giải pháp kỹ thuật, nghĩa là bố trí lại cơ cấu mùa vụ, các vùng sinh thái, vùng nào trồng những loại cây gì cho phù hợp thì sẽ tốt hơn.

Thứ ba là phải liên kết, không những liên kết «4 nhà» theo nghị định 80 của chính phủ Việt Nam, (liên kết giữa các nhà khoa học, để làm ra giống, về kỹ thuật canh tác thì nhà doanh nghiệp cũng như nhà nông phải liên kết với nhau, để tạo một cái mối liên kết với giới sản xuất lớn hầu mang lại hiệu quả tập trung) mà phải tiến tới việc liên kết vùng.

Bởi vì hệ quả biến đổi khí hậu như khô hạn, ngập mặn hoặc ô nhiễm môi trường không có biên giới. Do đó có sự liên kết khu vực mang lại hiệu quả cao. Chẳng hạn như sông Mêkông, không chỉ liên quan đến các vùng ở Việt Nam, mà còn ở cả Đông Dương. Thi dụ như ở Lào, họ xây đập như vậy thì có ảnh hưởng đến Việt Nam. Phải có sự liên kết cả khu vực để giải quyết, xử lý chuyện này. Nếu làm tốt cái đó thì sẽ được hiệu quả.»

Áp dụng giải pháp luân canh, không còn ưu tiên trồng lúa

Để bảo đảm tương lai và thu nhập cho nông dân, Việt Nam không có cách nào khác hơn là khuyên một số nông dân quay sang trồng cái gì khác hơn là lúa. Người ta bắt đầu giải thích là nên xen kẽ, chỉ làm 1 hay 2 vụ lúa mỗi năm, thời gian còn lại thì trồng rau quả. Đây là một phương thức canh tác bền vững hơn vì sẽ cho phép đất được phục hồi.

Ông Đinh Công Mười, kỹ sư nông nghiệp tại Cần Thơ, khuyên những người kém năng suất là hãy ngưng trồng lúa :

« Nó có mấy cái lý do. Thứ nhất là làm lúa bây giờ hiệu quả không cao. Giá lúa thấp. Nếu chuyển sang làm các loại hoa màu, không riêng gì dưa hấu, mà cả rau cải v.v.. thì hiệu quả kinh tế cao hơn.

Thứ hai là do biến đổi khí hậu, nếu trồng các cây màu thì sử dụng rất ít nước. Thành tựu lớn nhất là xài màn phủ. Màn phủ tốn rất ít nước. Bây giờ thì thấy cho nước uớt như vậy, nhưng mà khi cây dưa bắt đầu lớn, thì cũng không cần bơm nước, cây tự lấy nước bốc hơi từ lòng đất lên, đụng miếng màn phủ nước rớt trở lại do đó tiết kiệm được lượng nước rất nhiều.»

Tại An Bình, nông dân đã nghe theo những lời khuyên này. Ông Tư, cách đây hai năm, đã áp dụng phương pháp luân canh, trồng đậu nành, dưa hấu… Tuy nhiên, ông vẫn hoài nghi, sợ rằng kết quả không được mỹ mãn do thời tiết thất thường :

« Trước ở đây chỉ trồng lúa không thôi, ở đây đồng ruộng xanh luôn. Bây giờ thứ nhất, nước khó bơm, thứ hai, năng suất không cao. Có người hướng dẫn mới chuyển qua trồng dưa.

Thời tiết thay đổi, nước sông mặn hơn lúc trước. Thứ hai nữa, các năm trước, trồng dưa vào thời điểm này, bình thường không có gì, nhưng từ đây trở về sau, thời tiết cũng lạnh khác thường, dưa không phát triển được. Thời tiết khác hồi xưa. Thí dụ hồi xưa mưa, tới tháng qua Tết đâu có mưa, mưa trái mùa không có. Bây giờ mưa trái mùa và lạnh hơn xưa dữ lắm ».

Đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba khu vực bị tình hình biến đổi khí hậu đe doạ nhiều nhất trên thế giới. Nhân một cuộc họp tại Hà Nội vào tháng 11 năm ngoái, các chuyên gia quốc tế trong lãnh vực này đã tỏ ý lo ngại. Họ kêu gọi đề ra những biện pháp khẩn cấp để ngăn ngừa việc thiếu hụt lương thực trong những năm tới đây. Theo Liên Hiệp Quốc, để đáp ứng nhu cầu, cần phải sản xuất thêm khoảng 40% gạo từ đây đến năm 2030.

Như bài phóng sự cho thấy, tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nhiều nông dân đã bắt đầu đa dạng hóa sản xuất, cuộc sống của họ sung túc hơn. Ngoài lúa thì họ trồng thêm rau quả. Có người thì nuôi tôm, thu nhập cao hơn. Nhưng khó khăn vẫn đầy rẫy đối với họ : 2/3 nông dân chỉ sở hữu chừng 1 hay 2 hecta đất, thu nhập thấp kém. Mối lo hàng đầu của họ là chi phí gia tăng, đặc biệt là giá xăng dầu hay phân bón...

Chính phủ cũng giúp đỡ, cung cấp tín dụng, bảo hiểm trong trường hợp bị mất mùa, nhưng trong thực tế, nông dân trồng lúa phải tự bươn chải. Những người sản xuất nhỏ là thành phần bị đe dọa nhiều nhất vì không thể hiện đại hóa phương tiện canh tác, không trồng thêm được một thứ gì khác ngoài lúa, và không có kho để trữ lúa gạo thu hoạch được, chờ giá lên…

Vấn đề an toàn lương thực tại Việt Nam, một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, có nguy cơ trở thành nghiêm trọng trong tương lai. Tại Đại hội Lúa gạo Quốc tế tổ chức tháng 11 năm 2010 tại Hà Nội, thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng còn nhấn mạnh rằng an toàn lương thực góp phần duy trì ổn định cho đất nước.

Kết luận rút ra là Việt Nam cần cấp bách tiến hành một cuộc « cách mạng xanh » mới. Như nhiều chuyên gia dự báo, kể từ năm 2025, hệ quả của tình trạng trái đất hâm nóng sẽ tác hại mạnh mẽ đến nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt là đến vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

(Theo VOA Tiếng Việt)

7/5/11

Chuẩn bị cho Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ 2

Theo UBND tỉnh Sóc Trăng, Festival lúa gạo Việt Nam lần 2 do Sóc Trăng đăng cai tổ chức sẽ diễn ra từ ngày 8 đến 14/11 tại Trung tâm Văn hóa triển lãm Hồ Nước Ngọt, TP Sóc Trăng với chủ đề "Môi trường xanh cho cánh đồng vàng" và "Vinh danh hạt ngọc Việt".

 

Festival lúa gạo Việt Nam lần 2 - Sóc Trăng 2011 sẽ có nhiều hoạt động nhằm giới thiệu với bạn bè quốc tế và người dân trong nước các tư liệu lịch sử của nền văn minh lúa nước; những nông cụ, vật dụng sinh hoạt trong sản xuất nông nghiệp, đồng thời lồng ghép với các hoạt động giao lưu văn hóa, xúc tiến thương mại và đầu tư, tiếp thị truyền thông hàng hóa nông sản của tỉnh Sóc Trăng và Việt Nam với khách hàng quốc tế...

Các hoạt động chính trong tuần lễ Festival lúa gạo Sóc Trăng 2011 gồm có các nội dung chính như: Hội chợ triển lãm "Tái hiện mô hình công cụ sản xuất nông nghiệp từ thời khẩn hoang đến thời hiện đại"; "Mô hình phát triển của cây lúa Việt Nam qua các thời kỳ"; triển lãm "Hạt gạo làng ta vươn ra thế giới"; giới thiệu triển lãm của các Bộ, ngành, địa phương, đại sứ quán, tổng lãnh sự quán của một số nước...

Tại Festival còn có chuỗi các cuộc hội thảo như: "Đặc sản gạo Sóc Trăng - con đường phát triển lúa gạo chất lượng cao"; "Gạo Việt Nam: Ai bán, Ai mua?"; Định vị thương hiệu lúa gạo Việt Nam...

Các chương trình hội diễn, hội thi dự kiến tổ chức cùng Festival như: Chương trình bắn pháo hoa chào mừng, biểu diễn nghệ thuật đặc sắc; dân ca 3 miền; đêm hội tôn vinh và trao tặng danh hiệu cúp vàng xuất khẩu gạo; Hội thi "Gạo ngon thương hiệu Việt"; hội thi đờn ca tài tử; hội thi người đẹp miệt vườn; hội thi nhiếp ảnh Việt Nam với biến đổi khí hậu toàn cầu.

Đặc biệt, chương trình Festival lúa gạo diễn ra cùng với thời điểm lễ hội đua ghe ngo Oóc-Om-Boc của đồng bào Khmer Nam Bộ nên có thêm chương trình đua ghe ngo trên sông Maspero. Bên cạnh đó, lễ hội đâm cốm dẹp sẽ tái hiện làng nghề làm cốm dẹp tại Sóc Trăng, các trò chơi dân gian của đồng bào dân tộc Khmer...

Nguon: luagao.com

Ký kết xuất khẩu gần 4 triệu tấn gạo

Ký kết xuất khẩu gần 4 triệu tấn gạo 
06/05/2011 
 
Ngày 4.5, Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết, số hợp đồng gạo ký đến thời điểm này đã đạt 3,9 triệu tấn, giao hàng đến hết tháng 6.2011.

 

Gạo thu hoạch vụ đông xuân đã cơ bản hoàn thành, với gạo vụ hè thu sắp tới theo dự báo của Hiệp hội sẽ giữ được giá cao cho bà con nông dân, bởi nhu cầu gạo trên thị trường không đột biến nhưng đang có nhiều khách hàng như Philippines, Indonesia đang tăng cường đặt mua gạo Việt Nam.

Lượng gạo tồn kho của Hiệp hội đến thời điểm này khoảng 1,7 triệu tấn, gạo tồn trong kho của các doanh nghiệp khoảng 300.000 tấn – đủ đảm bảo cho bình ổn giá ở trong nước và xuất khẩu.

Theo Dân Việt

Bất ngờ với gạo than

Bất ngờ với gạo than
04/05/2011 
 
Các nghiên cứu độc lập của các nhà nông học Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy hàm lượng các chất có nhiều hoạt tính sinh học quý ở gạo than cao hơn gạo trắng nhiều. Đây là những nghiên cứu mở ra cánh cửa cho ngành thực phẩm gạo chức năng.

 
Cơm gạo than có tác dụng phòng chống nhiều loại bệnh tật. Ảnh: H.L

Tiến sĩ Lê Hữu Hải, người âm thầm nghiên cứu gạo than từ năm 2005 đến đã phát hiện hàm lượng anthocyanin của gạo than Cai Lậy, Tiền Giang lên tới 600 mg/kg.

“Anthocyanin có trong gạo than tới 60,4 mg/100g, cao hơn 94,47% so với gạo trắng. Đây là hợp chất có nhiều hoạt tính sinh học quí như: khả năng chống oxy hóa cao nên được sử dụng để chống lão hóa; chống oxy hóa các sản phẩm thực phẩm; hạn chế sự suy giảm sức đề kháng; có tác dụng làm bền thành mạch, chống viêm, hạn chế sự phát triển của các tế bào ung thư”, TS Hải giải thích.

Một nghiên cứu khác của phòng thí nghiệm chuyên sâu thuộc trường Đại học Cần Thơ và Trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm TP.HCM khẳng định: 1 kilogam gạo than chứa đến 26,4 mg chất sắt, cao hơn 450% so với gạo trắng (4,8 mg/kg), chỉ thấp hơn thịt bò 13,6% (30 mg/kg).

Vi chất sắt trong gạo than cần thiết trong việc duy trì sự khoẻ mạnh của hệ miễn dịch, các cơ và điều chỉnh sự phát triển của các tế bào. Chất sắt được dự trữ trong hemoglobin và myoglobin, 2 tế bào protein máu có nhiệm vụ vận chuyển oxy đến các mô và cơ trong cơ thể. Các nhà khoa học còn phát hiện quan hệ giữa kẽm và tuyến tiền liệt rất mật thiết.

Ngoài ra, trong gạo than còn chứa nhiều khoáng chất khác như amylose, canxi, lysine… có hàm lượng cao hơn gạo trắng bình thường.

Gạo than chứa Anthocyanin, xay lứt ngâm trong 20 giờ, nấu chín... người Nhật ăn theo phương pháp thực dưỡng còn gọi đó là cơm gạo mầm, tác dụng chống các tia phóng xạ.

Từ nguồn giống của Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), chạy điện di protein SDS - PAGE tại bộ môn Di truyền chọn giống, trường Đại học Cần Thơ, trồng khảo nghiệm nhiều vụ ngoài đồng ruộng tại Cai Lậy, tiến sĩ Hải đã tuyển chọn được 2 dòng lúa than thích nghi tốt với điều kiện sản xuất thâm canh, thời gian sinh trưởng chỉ 75 - 80 ngày, không cảm ứng quang kỳ như các giống lúa mùa nên có thể thâm canh 3 vụ/năm.

Lúa than trồng tại Cai Lậy, Tiền Giang.

Tiến sĩ Võ Công Thành, bộ môn Di truyền chọn giống, cho biết giống lúa than “Huyền Ngọc”, được chọn tạo từ tổ hợp lai từ loại lúa Khẩu Lệch (Huế) và giống BN, kết quả kiểm nghiệm của phòng thí nghiệm chuyên sâu trường đại học Cần Thơ cho thấy hàm lượng Fe tới 54,9 mg/kg và anthocyanin lên đến 1432 mg/kg, cao hơn lúa than Cai Lậy. Tiến sĩ Thành nói rằng ông cố gắng làm cho giống lúa có tính kháng sâu bệnh, chịu hạn hoặc mặn trên 5‰.

Tại Sóc Trăng, kĩ sư Hồ Quang Cua, âm thầm nghiên cứu tổ hợp lai, cũng bất ngờ trước những kết quả vi chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, theo ông, cần tiếp tục nghiên cứu. Thầm lặng và ngẫu nhiên, 3 điểm nghiên cứu lúa than vô tình chạy vào đường đua.

Tiến sĩ Hải cho biết ông đã làm hồ sơ đăng ký “Gạo Lá cẩm Cai Lậy” và HTX Mỹ Thành, Cai Lậy, Tiền Giang đã trồng 39 ha lúa than theo tiêu chuẩn GlobalGAP trong vụ hè thu sớm 2011.

Công ty TNHH ADC đặt hàng toàn bộ lúa than với giá tương ứng 1 kg “lúa cẩm Cai Lậy“ = 1,6kg lúa hột dài. Công ty này sẽ giúp HTX mở rộng diện tích và kết hợp với ngành dược phẩm tạo ra cuộc đời thứ hai của gạo than với dòng sản phẩm mới có giá trị dinh dưỡng cao, dùng như thực phẩm chức năng.

Với năng suất bình quân 5-6 tấn/ha, các nhóm tác nhân: chế biến, đóng gói, kinh doanh siêu thị đang tìm cách săn đón gạo than. Một số công ty xuất khẩu cũng muốn tham gia chuỗi giá trị bằng cách đẩy giá lên cao để mua hàng mà không cần đầu tư vùng nguyên liệu. Nhưng những cơ hội thương lượng với người sản xuất cá thể ở Tiền Giang, Sóc Trăng rất mong manh vì nguồn giống vốn rất giới hạn và việc kiểm soát dự án tại gốc hết sức chặt chẽ.

Theo SGTT.VN

Giá lúa gạo giảm bất thường

Giá lúa gạo giảm bất thường  
04/05/2011

 
 
Mặc dù đã cuối vụ đông xuân 2011, lượng lúa tồn đọng trong dân không còn nhiều nhưng giá lúa lại giảm từ 500 - 1.000 đồng/kg

Trong khi những năm trước, giá lúa sẽ tăng mạnh vào cuối vụ, thời điểm trong dân không còn tồn đọng bao nhiêu. Thế nhưng, năm nay giá lúa lại giảm kể từ cuối tháng 4 đến nay.

Mặc dù trong dân đã hết lúa nhưng giá lúa gạo vẫn giảm mạnh

Hết lúa giá vẫn giảm

Tính đến thời điểm này, các tỉnh ĐBSCL đã thu hoạch dứt điểm vụ lúa đông xuân 2011, chỉ còn lác đác một vài nơi thu hoạch muộn với diện tích không đáng kể. Kể từ đầu vụ đông xuân đến nay, giá lúa gạo trong nước liên tục tăng – giảm bất thường. Có thời điểm mới vào vụ thu hoạch, giá lúa lại sụt giảm rất mạnh khiến nông dân lo lắng.

Trước tình hình đó, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) đã chỉ đạo các doanh nghiệp (DN) thành viên triển khai thu mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo, tiến hành từ ngày 1-3 đến 15-4. Nhờ đó đã góp phần tiêu thụ một lượng lớn lúa trong dân, bình ổn thị trường nội địa. Theo đó, giá lúa trong nước cũng được duy trì ở mức 5.000 đồng/kg trở lên. Mặc dù vậy, ngay trong thời gian các DN đang triển khai thu mua tạm trữ, giá lúa vẫn biến động mạnh, có lúc giảm đến 1.000 đồng/kg. Kể từ khi kết thúc thời gian thu mua tạm trữ, giá lúa gạo trong nước, mà chủ yếu là ở khu vực ĐBSCL, lại liên tục mất ổn định.

Lý giải cho tình trạng giá vẫn giảm mạnh dù lượng lúa trong dân còn rất ít, nhiều người cho rằng do các DN đã tranh thủ mua vào trong thời gian tạm trữ. Bởi trong thời gian đó, có lúc giá lúa chỉ còn 5.000-5.200 đồng/kg, là cơ hội vàng để DN “gom hàng”.

Theo nông dân Nguyễn Thanh Sang (xã Phú Cường, huyện Tam Nông - Đồng Tháp), chỉ trong vòng 4 ngày từ 29-4 đến 2-5, giá lúa các loại đã giảm từ 500 - 800 đồng/kg. “Hiện nay, lúa hạt dài chỉ còn khoảng 6.000 đồng/kg, giảm 500 đồng/kg. Còn các giống lúa thơm thì mất giá nhiều hơn, chỉ còn khoảng 6.500 đồng/kg, trong khi trước đó khoảng 7.500 đồng/kg, giảm 1.000 đồng/kg” – ông Sang cho biết. Lão nông Nguyễn Văn Kha (xã Tân Phú, huyện Thanh Bình - Đồng Tháp) tỏ ra rất bất ngờ trước nghịch lý giá lúa gạo năm nay. Ông Kha cho biết mọi năm, khi DN đã thu mua hết lúa gạo trong dân thì tự nhiên giá lúa sẽ tăng nhanh chóng.

Dồn về biên giới “ăn” lúa ngoại


Trước hiện tượng lạ ở cuối vụ lúa đông xuân năm nay, chúng tôi đã đi thực tế nhiều nơi để tìm hiểu. Rảo qua các khu vực tập trung nhiều nhà máy xay xát, lau bóng, chế biến gạo xuất khẩu dọc Quốc lộ 80 thuộc huyện Lấp Vò - Đồng Tháp, ghe thuyền vẫn tấp nập dưới bến để đổ hàng cho nhà máy. Một thương lái quả quyết tốp ghe này chở đầy lúa ngoại (Campuchia) từ vùng biên giới về. “Bây giờ hết mùa lúa, trong dân không còn bao nhiêu hàng nên đi mua lẻ cực lắm.

Mặc dù giá lúa trong nước mấy ngày nay có giảm và rẻ hơn lúa Campuchia ở vùng biên giới nhưng tốn nhiều thời gian mới mua đầy một ghe vài chục tấn. Bởi vậy, thương lái chúng tôi dồn hết về biên giới “ăn” lúa ngoại. Lúa Campuchia có quanh năm, lúc nào cũng dồi dào ở khu chợ Đường Sứ, xã An Nông, huyện Tịnh Biên - An Giang, khỏi đi đâu kiếm mua cho mệt” – ông Hùng, thương lái ở huyện Lấp Vò, cho biết.

Để kiểm chứng lời của cánh thương lái, chúng tôi tiếp tục tìm về Ô Môn (TP Cần Thơ), Vị Thủy (Hậu Giang). Nhiều nông dân cho biết do túng thiếu, họ phải bán cả lúa để dành ăn cho 3 tháng tới nhưng không tìm đâu ra cánh hàng xáo. “Chỗ quen biết từng mua lúa của tôi hồi đầu vụ, vậy mà nay họ chẳng ngó ngàng. Họ cho biết nếu bán số lượng từ 5-10 tấn mới mua” - bà Lê Thị Xuân Mân (phường Thới An Đông, quận Ô Môn) nói. Trong khi đó, ông Phan Hậu, thương lái chuyên thu mua lúa ở Hậu Giang, cho biết thời điểm này rất ít đi mua lúa. Ông Hậu giải thích vì lúa đã hết, có đi khắp miệt đồng bằng cũng chẳng gom được bao nhiêu.

VFA: “Nông dân lãi 2.000 - 3.000 đồng/kg lúa” (?!)

Theo Cục Trồng trọt (Bộ NN-PTNT), đến cuối tháng 4, các tỉnh ĐBSCL đã thu hoạch được 1,462 triệu ha/1,567 triệu ha lúa đông xuân. Như vậy, cơ bản đã thu hoạch xong vụ đông xuân với sản lượng trên 9,7 triệu tấn lúa. Ông Phạm Văn Bảy, Phó Chủ tịch VFA, cho rằng có thể xem đây là vụ mùa thắng lợi của nông dân ĐBSCL. Kế hoạch mua 1 triệu tấn gạo tạm trữ đã hoàn thành.

Dù Bộ Tài chính chưa đưa ra số liệu chính thức về giá thành lúa vụ đông xuân tại ĐBSCL nhưng theo ước tính của VFA, giá thành vụ này dao động ở mức 2.800- 3.200 đồng/kg, với giá bán hiện đã lên mức 6.200 - 6.300 đồng, người trồng lúa có thể lãi từ 2.000- 3.000 đồng/kg.

Theo Người Lao Động
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...