Xuân Giáp Ngọ 2014, Đại lý gạo Miền Tây BÌNH MINH kính chúc toàn thể gia đình các Quý khách hàng lời chúc: SỨC KHỎE & THÀNH CÔNG. GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC - AN KHANG - THỊNH VƯỢNG

31/7/11

Đồng bằng sông Cửu Long: Giá gạo nội địa cao hơn giá xuất khẩu

SGTT.VN - Tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa hè thu đang ở mức 6.700 đồng/kg, cao nhất từ trước đến nay sau một thời gian ngắn giảm giá nhẹ. Giá gạo nguyên liệu cũng ở mức kỷ lục 10.500 đồng/kg.

Giá bán nhiều loại gạo đều tăng tại các chợ ở TP.HCM, 28.7.2011. Ảnh: Lê Quang Nhật

Sáng ngày 28.7, sau khi kiểm tra lại sổ sách, ông Nguyễn Thanh Long, giám đốc điều hành công ty TNHH Gạo Việt (TP.HCM) mới giật mình vì chỉ trong vòng chưa đầy một tháng, giá gạo nguyên liệu tăng gần 20%.

“Đón gió” giá thế giới

Ông Long nhớ lại: cơn sốt giá gạo thế giới, trong đó có Việt Nam diễn ra hồi cuối tháng 4.2008, gạo nguyên liệu xuất khẩu 5% tấm tại mạn tàu cao nhất cũng chỉ ở mức 9.700 đồng/kg, nhưng bây giờ đã vượt qua mốc 10.500 đồng/kg, tương đương hơn 510 USD/tấn.

Vài ngày gần đây, trong giới kinh doanh gạo xuất hiện thông tin cho rằng giá lúa gạo biến động là do có tình trạng đầu cơ, đón “gió” giá gạo Thái Lan được dự báo sẽ tăng. Trên thực tế, chỉ trong vòng khoảng 15 ngày đầu tháng 7.2011, giá gạo 5% tấm của Thái Lan tăng gần 100 USD/tấn, lên 570 USD sau khi đảng Vì nước Thái thắng cử và sẽ phải thực hiện chính sách cam kết hỗ trợ mua lúa khô loại thường cho nông dân không dưới 15.000 baht/tấn. Mức giá này quy đổi ra VND khoảng hơn 10.000 đồng/kg.

Gạo Thái Lan tăng ngay lập tức kéo giá gạo xuất khẩu Việt Nam tăng 30 – 40 USD, lên mức trung bình 500 USD trong khoảng 15 ngày đầu tháng 7. Giám đốc một doanh nghiệp tư nhân, chuyên cung ứng gạo nguyên liệu xuất khẩu ở Tiền Giang, cho biết tâm lý đầu cơ tích trữ gạo chờ giá tăng trong giới kinh doanh là có thật. “Ai cũng dự đoán giá gạo Thái sẽ tăng sau bầu cử chính trị nên dồn lực mua vào. Trong mười ngày đầu tháng 7, chúng tôi nhanh chân mua được 10.000 tấn, giá chỉ dưới 10.000 đồng/kg. Đến đầu tuần này công ty bán cho doanh nghiệp xuất khẩu, lãi 500 đồng/kg”, vị giám đốc trên cho hay.

Theo ông Nguyễn Văn Đôn, giám đốc công ty TNHH Việt Hưng (Tiền Giang), với mức lãi vay hiện nay thì chi phí tồn kho mỗi tháng khoảng 160 – 170 đồng/kg gạo. Thế nhưng, trong vòng chưa đầy một tháng trở lại đây, gạo nguyên liệu nội địa tăng ít nhất 1.500 đồng/kg, gấp gần mười lần mức lãi vay nên kích thích doanh nghiệp cung ứng mua vào tích trữ.

Giá lúa gạo trong nước tăng nóng còn do doanh nghiệp mua vào nhiều để giao hàng xuất khẩu theo các hợp đồng đã ký. Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) dự kiến sản lượng gạo xuất khẩu quý 3 sẽ là 1,9 triệu tấn, nghĩa là từ tháng 7 đến tháng 9 mỗi tháng phải giao gần 700.000 tấn gạo cho khách hàng. Ngoài ra, một số doanh nghiệp cho biết, hơn hai tuần đầu tháng 7, do giá gạo Thái quá cao, nhà nhập khẩu chuyển sang mua gạo Việt Nam, nên doanh nghiệp tranh thủ ký hợp đồng và phải mua để giao cho khách. Theo một nguồn tin riêng của chúng tôi, số đăng ký xuất khẩu gạo thương mại trong tháng này vượt 1 triệu tấn. Có nguồn tin còn cho hay Việt Nam lại vừa trúng thầu cung cấp thêm cho Indonesia số lượng vài trăm ngàn tấn gạo theo dạng hợp đồng tập trung.

Doanh nghiệp xuất khẩu lỗ

Ông Nguyễn Thành Long, giám đốc công ty Gạo Việt cho biết, do giá gạo nguyên liệu liên tục tăng mạnh nên hơn một tuần nay ông không dám ký hợp đồng thêm vì sợ lỗ. Một số doanh nghiệp khác cũng cho biết, đối với những hợp đồng ký được giá cao (từ 500 – 510 USD/tấn) trong hai tuần đầu tháng 7 vừa qua, nếu doanh nghiệp không mua ngay nguyên liệu vào thời điểm đó thì nay chắc chắn bị lỗ do giá tăng cao hơn 20 – 30 USD/tấn. Tình trạng thua lỗ còn nặng nề hơn dành cho những hợp đồng ký trong quý 2 với giá thấp (460 – 470 USD/tấn), thời gian giao từ tháng 7 cho đến hết năm 2011. Theo VFA, số lượng gạo ký hợp đồng trong quý 2 vào khoảng hơn 1,3 triệu tấn.

Ông Huỳnh Minh Huệ, tổng thư ký hiệp hội Lương thực Việt Nam thừa nhận giá gạo nội địa tăng cao hơn giá xuất khẩu khiến cho nhiều doanh nghiệp bị lỗ do ký hợp đồng vào thời điểm giá thế giới ở mức thấp. Ông Huệ cũng dự báo, trong trường hợp giá gạo Thái tiếp tục tăng, nhu cầu nhập khẩu sẽ chuyển hướng, dự báo Việt Nam sẽ là nơi hưởng lợi vì giá thấp hơn và có khả năng cung cấp, đáp ứng thị trường.




Đặng Hoàng

7/7/11

Thu hoạch lúa ở ĐBSCL: Tổn thất hơn 365 triệu USD/năm

Một năm vùng ĐBSCL thu hoạch hơn 20 triệu tấn lúa. Do đó, quy ra tiền, tổn thất sau thu hoạch mỗi năm lên đến 365 triệu USD.
 

Ngày 30.6, tại TP.Cần Thơ đã diễn ra “Hội thảo về bảo quản lúa gạo cho ĐBSCL” do Viện Nghiên cứu lúa quốc tế, Phân viện Cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch (Bộ NNPTNT), Trường Đại học Nông lâm TP.HCM phối hợp tổ chức.
Theo thống kê của các nhà khoa học, nông dân thu hoạch lúa bị tổn thất từ 12-14% ở các khâu cắt lúa, sấy lúa, tồn trữ... TS Phạm Văn Tấn - Phó Giám đốc Phân viện Cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch, cho biết, 1 năm vùng ĐBSCL thu hoạch hơn 20 triệu tấn lúa. Do đó, quy ra tiền, tổn thất sau thu hoạch mỗi năm lên đến 365 triệu USD.

Theo Nông nghiệp Việt Nam.

Giá lúa gạo tăng trở lại

Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho biết, giá lúa gạo đã tăng trở lại nhờ nhu cầu thu mua xuất khẩu phục vụ các đơn hàng mới từ Bangladesh và Indonesia. Giá lúa thường ở Đồng bằng sông Cửu Long hôm qua (3-7), dao động từ 5.750-5.850 đồng/kg, tăng 200 đồng/kg so với tuần trước; giá lúa dài khoảng 5.950-6.050 đồng/kg, tăng 250 đồng. 
 
 

Trong khi đó, giá gạo nguyên liệu loại 1 làm ra gạo 5% tấm là 7.850-7.950 đồng/kg, tăng 200 đồng/kg; giá gạo nguyên liệu làm ra gạo 25% tấm tăng cùng mức lên 7.700-7.800 đồng/kg; giá gạo thành phẩm 5% tấm không bao bì khoảng 9.350-9.450 đồng/kg, tăng 200 đồng; giá gạo 15% tấm là 8.750 - 8.850 đồng/kg, tăng 100 đồng và gạo 25% tấm khoảng 8.500 - 8.600 đồng/kg, tăng 150 đồng/kg. Giá lúa gạo hồi phục sau thời gian dài liên tục giảm là nhờ các đơn hàng mới, Bangladesh đã ký hợp đồng mua 100.000 tấn gạo trắng 15% tấm với giá 525 USD/tấn, giao trong tháng 7; Indonesia đang thỏa thuận mua 400.000 tấn gạo của Việt Nam.

Theo Hà Nội mới

Nông dân phấn khởi vì lúa hè thu trúng mùa, trúng giá

Đến nay nông dân Hậu Giang đã thu hoạch được gần 13.000 ha trên tổng diện tích gieo cấy 78.000 ha, năng suất bình quân đạt 5,6 tấn/ha, tăng hơn năm trước 2 tạ/ha. Hiện tại, mặc dù giá lúa có giảm hơn so với đầu vụ từ 500 đến 700 đồng/kg nhưng vẫn còn ở mức cao, dao động trên dưới 5.100 đồng/kg lúa khô. Giá lúa ướt thu hoạch ngay thời điểm mưa dầm được thương lái thu mua tại ruộng từ 3.800 đến 4.200 đồng/kg. Do phần lớn nông dân thiếu nơi phơi sấy nên bà con đều bán lúa ướt cho thương lái.
 

Theo ông Nguyễn Văn Đồng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thông tỉnh Hậu Giang: do lúa năm nay vừa trúng mùa, trúng giá nên lợi nhuận của nông dân đạt khá. Với giá bán như hiện nay và chi phí giá thành trong vụ này là 3.200 đồng/kg (cao hơn vụ trước 400 đồng/kg), lợi nhuận thu được trong vụ này bình quân đạt từ 12 đến 15 triệu đồng/ha, chiếm trên 30% tổng vốn đầu tư. Nông dân đã đầu tư tăng được 31 máy gặt đập liên hợp, nâng tổng số máy gặt đập liên hợp trên địa bàn Hậu Giang lên 76 máy, giúp bà con thu hoạch nhanh, giảm chi phí hơn so với các năm trước. Khó khăn lớn nhất trong vụ này là chi phí cho phân bón, vật tư tăng cao, thiếu sân phơi, lò sấy trong khi hầu hết diện tích thu hoạch đều rơi vào giai đoạn mưa bão. Nhờ sản xuất có lãi nên ở một số huyện Châu Thành A, Vị Thủy… sau khi thu hoạch xong lúa hè thu, bà con đã khẩn trương vệ sinh đồng ruộng và xuống giống lại lúa vụ 3.

Nông dân huyện Càng Long (Trà Vinh) đã thu hoạch được gần 8.000 ha lúa vụ hè thu, chiếm trên 57% diện tích xuống giống. Năng suất bình quân đạt 5,4 tấn/ha, tăng gần 1 tấn/ha so với vụ lúa hè thu năm ngoái, cao nhất kể từ trước đến nay. Giá lúa tươi thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp hiện dao động từ 4.500- 4.600 đồng/kg, lúa phơi khô làm sạch đủ chuẩn chế biến xuất khẩu có giá từ 5.400- 5.500 đồng/kg. Theo các hộ nông dân cho biết, tuy chi phí sản xuất lúa vụ hè thu tăng hơn vụ đông xuân 2010- 2011 khoảng 15- 25% (tuỳ điều kiện đất) nhưng với năng suất và giá cả như hiện nay, bình quân mỗi hécta người trồng lúa thu lãi khoảng 12- 15 triệu đồng, riêng các hộ thâm canh tốt đạt năng suất 6- 7 tấn/ha có mức lãi cao hơn nhiều.

Càng Long là huyện trọng điểm sản xuất lúa của tỉnh Trà Vinh, hàng năm sản xuất 3 vụ lúa gồm: đông xuân, hè thu và thu đông, với diện tích khoảng 14.000- 14.500 ha/vụ, trong đó sản xuất lúa vụ hè thu thường gặp nhiều khó khăn nhất. Năm nay cũng không ngoại lệ, vào thời điểm đầu vụ tình hình khô hạn, mặn xâm nhập diễn ra khá gay gắt, đe dọa trực tiếp và ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ xuống giống lúa vụ hè thu trên địa bàn huyện. Nhưng huyện đã tập trung chỉ đạo, làm tốt công tác thủy lợi nội đồng, quản lý chặt việc vận hành các công trình thủy lợi đầu mối trong việc ngăn mặn, tiếp ngọt một cách hiệu quả nhất; thực hiện xuống giống một cách đồng loạt, đúng lịch thời vụ theo hướng “né” rầy và hạn mặn theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật và chính quyền địa phương... Trong chế độ canh tác, có khoảng 90% nông dân sử dụng các giống lúa xác nhận, có sức kháng rầy cao, áp dụng chương trình “3 tăng, 3 giảm” một cách triệt để, đặc biệt là không sạ dày và bón thừa đạm cho cây lúa…

Ông Trần Văn Tâm, Phó Giám đốc Công ty lương thực Trà Vinh cho biết: Công ty đang triển khai mua tạm trữ 60.000 tấn gạo (tương đương khoảng 120.000 tấn lúa) trong vụ lúa hè thu theo chỉ tiêu phân bổ của Tổng công ty lương thực miền Nam. Vụ lúa hè thu năm 2011, nông dân tỉnh Trà Vinh xuống giống được khoảng 80.000 ha, với sản lượng ước đạt 400.000 tấn lúa. Để hoàn thành chỉ tiêu mua gạo tạm trữ và mua hết lúa hàng hóa trong dân, ngoài việc tổ chức 04 điểm mua lúa gạo tại các khu vực trọng điểm lúa vụ hè thu, Công ty lương thực Trà Vinh phối hợp chặt với khoảng 30 khách hàng là các đại lý, cơ sở xay xát lúa gạo trong tỉnh, triển khai mua tạm trữ 6 0.000 tấn gạo trong vụ lúa hè thu. Đặc biệt, Công ty vừa hoàn thành xây dựng và đưa vào hoạt động kho chứa gạo tại xã An Phú Tân, huyện Cầu Kè, công suất 70.000 tấn/năm. Kho chứa gạo này được xây dựng theo hệ thống khép kín, với các trang thiết bị hiện đại từ khâu thu mua, chế biến, phân tích chất lượng và tạm trữ lúa gạo.

Năm 2011, Tổng công ty lương thực miền Nam giao chỉ tiêu cho Công ty lương thực Trà Vinh xuất khẩu 150.000 tấn gạo. Đến nay, Công ty đã mua vào được 82.000 tấn gạo, hiện đã ký kết hợp đồng được 70.000 tấn và xuất khẩu được 60.000 tấn, với tổng kim ngạch hơn 15 triệu USD./.

(Theo TTXVN)

Tạ mùa no đủ

(Dân Việt) - Chẳng biết tự bao giờ, tập tục biện lễ để dâng tạ mùa màng no đủ trước mỗi vụ gặt đã trở thành điều không thể thiếu trong đời sống tâm linh của những người làm ruộng ở Văn Chấn, Yên Bái.

 

Tập tục còn ước định rằng, nếu chưa làm lễ tạ mùa thì dù cho gạo lúa đã thu về đầy bồ, chật cót, phơi phóng xong xuôi cũng không được xay xát, đun nấu. "Tạ mùa là để chúng ta tri ân với trời đất, ông bà tổ tiên, cầu cho mưa thuận gió hòa, tránh được dịch bệnh, vụ lúa sau sẽ tốt hơn vụ này..." - những người già vẫn dặn dò cháu con như vậy.

Khi cái nắng trời bắt đầu gay gắt, lúa trên đồng làng đã đến độ vàng hươm chỉ chờ thu hoạch cũng là lúc mọi người, mọi nhà bàn nhau chọn giờ tốt, ngày tốt để làm lễ cúng cơm tạ mùa. Người ta thường chọn ngày bình an, tức ngày mùng 8 tháng Giêng và mùng 8.8 âm lịch để tổ chức lễ cúng.

Ngay từ sớm tinh mơ ngày đã định, khi mặt trời chưa ló rạng, chủ gia đình mang liềm ra ruộng lúa tốt nhất của nhà mình, chọn cắt một đon lớn gánh về. Tiếp theo, phụ nữ lựa ra những bông lúa đẹp, chắc, mẩy nhất bó thành một bó nhỏ rồi đặt lên bàn thờ gia tiên. Chỗ lúa còn lại được tuốt thành thóc, xay, giã, giần, sàng để có một mẻ gạo mới.

Gạo đó để trong buồng, đợi đến chiều muộn khi mặt trời đã lặn sẽ đem thổi cơm kết hợp với thịt một con gà trống tơ, một miếng thịt lợn luộc rồi tất cả được xếp lên mâm. Đến đúng đầu giờ Tuất (khoảng ngoài 7 giờ tối), lễ tạ mùa do người đàn ông lớn tuổi nhất trong nhà chủ trì sẽ chính thức bắt đầu.
Trong lúc lễ diễn ra, cổng và cửa nhà phải đóng kín, toàn bộ các thành viên của gia đình phải tập trung trước gian thờ. Nếu chủ tế chưa cho phép không ai được mở cửa. Bởi theo quan niệm vía lúa và những điều may mắn đang ở cả trong nhà, chỉ cần hé cửa nó sẽ bay sang nhà khác.
Thắp 3 nén hương lên ban thờ, người chủ tế đọc lời khấn nguyện, vừa tạ ơn các bậc tiền nhân và các vị thần linh đã phù hộ cho lúa vụ này mẩy hạt sai bông, vừa cầu mong cho sự độ trì được tiếp tục để vụ lúa tới thời tiết cũng thuận hòa, mùa màng bội thu, đủ đầy, sung túc...

Lời cúng vừa dứt, mọi người thành tâm cúi đầu hành lễ. Đợi khi nhang tàn, bát cơm mới và các lễ vật được hạ xuống để cả nhà cùng nhau quây quần thụ lộc. Các thành viên trong nhà được chia một chút cơm mới để ăn lấy may.

Cũng có nhiều gia đình cẩn thận, khi chuẩn bị lễ vật tạ mùa còn đặt cạnh đĩa xôi, con gà, khổ thịt, một quả trứng vịt luộc. Khi nhang tàn, việc đầu tiên sau khi hạ lễ, người chủ nhà bóc quả trứng luộc ra xem. Nếu như lòng đỏ quả trứng càng lớn chứng tỏ lúa vụ tới càng được mùa.
Chia lộc cho hàng xóm láng giềng vào ngày lễ tạ mùa cũng là một tập tục đẹp của vùng quê này. Chẳng biết cái lộc đó đem đến may mắn như thế nào, nhưng điều đọng lại là tình cảm làng xóm ngày càng gắn bó, nồng ấm…

(Theo NNVN)

18/5/11

Lúa gạo Việt Nam : Cần khẩn cấp một cuộc cách mạng xanh mới

Đồng bằng sông Cửu Long, vựa thóc của Việt Nam, là nơi làm ra một nửa lượng gạo trên toàn quốc, cung ứng gần như toàn bộ gạo xuất khẩu. Nhưng tình hình này có thể sẽ không kéo dài được nữa. Do biến đổi khí hậu, hàng trăm ngàn hecta ruộng đồng bị đe doạ : hạn hán, ngập mặn, lụt lội... Việt Nam không còn cách nào khác hơn là phải thích nghi với những khó khăn. 
 
 
Lúa gạo Việt Nam đang cần khẩn cấp một cuộc cách mạng xanh mới. Đây chính là chủ đề phóng sự của thông tín viên Lucie Moulin, thực hiện tại Việt Nam vào tháng Tư 2011.

Lucie đã xuống tận làng An Bình, tỉnh Sóc Trăng, và gặp được bác Minh, một nông dân 67 tuổi, đang ngồi trong vườn phía sau nhà. Trước đây bác làm ruộng nên biết rất rõ các mối lo âu của nông dân trong vùng :

« Hồi xưa làm dễ hơn, phân xuống ít thôi, thí dụ trồng một công đất thì chỉ rải 5 hay 7 ký phân. Bây giờ thì phải tăng từ một bao đến một bao mấy, năm sáu chục ký lô phân vậy đó. Thành ra đất như bạc màu hay sao đó. Nhưng mà làm cũng vẫn trúng, năng suất vẫn cao, nhưng mà chi phí nhiều hơn. »

Theo bác Minh, hiện giờ công việc trồng lúa không còn được như xưa :

« Thời xưa, mần một công luá, cô bán ra cô có thể mua được hai ba chỉ vàng, nó lãi đó, còn bây giờ không được đâu ! Một phân còn không được nữa. Bởi vì chi phí quá trời nhiều. Nước cũng phải cần kéo lên, chạy bằng máy móc không à ! Chi phí nó nhiều.

Vàng bây giờ bốn năm trăm ngàn một chỉ, mắc quá trời. Làm ruộng, làm vườn chỉ sắm vàng thôi. Vàng lên như vậy thì không ai có ! Mọi lần đi cưới vợ, là cho 1 cây 2 cây, bây giờ giỏi lắm chỉ đôi bông một chỉ…»

Nhờ thời tiết tốt và hàng trăm con kênh rạch, nông dân Đồng bằng sông Cửu Long khi xưa đã tranh thủ được những điều kiện kể như tuyệt hảo, để có được đến 3 vụ mùa mỗi năm. Nhưng ngày nay, thì vụ nào cũng có thể bị thời tiết thất thường phá hủy, khi thì hạn hán kéo dài, khi thì bị lụt lội, lúc thì bị ngập mặn do nước biển tràn vào.

Hai mối đe dọa : biến đổi khí hậu và dân số gia tăng

Những hiện tượng này ngày càng nghiêm trọng hơn. Năm nay ở Đồng bằng, phèn đã thâm nhập vào những khu đất cách bờ biển đến 70 cây số, trong lúc trước đây nước mặn chỉ vào tới 40 cây số mà thôi.
Trong lúc đó thì Việt Nam dự kiến sản xuất nhiều gạo hơn nữa. Các tổ chức quốc tế cũng khuyến khích Việt Nam trong chiều hướng này, vì đó là lương thực cơ bản đối với một nửa dân số thế giới.
Đây là môt thách thức rất lớn, theo ông Lê Văn Bảnh, Giám đốc Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long. Ông nêu bật mối quan tâm về việc phải bảo đảm an toàn lương thực trước nhiều nguy cơ, từ khí hậu biến đổi cho đến dân số gia tăng ở Việt Nam :

« Hiện nay, công việc phát triển sản xuất lúa gạo vẫn có triển vọng. Nhưng không thể lạc quan vì có nhiều rủi ro trong sản xuất nông nghiệp. Có thể vụ này trúng mà vụ sau thì không biết thế nào. Một là do biến đổi khí hậu, do áp lực về sâu bệnh, hai nữa là sự gia tăng dân số. Mỗi năm Việt Nam có khoảng hơn 1 triệu trẻ em ra đời. Dự kiến là đến năm 2020, thì dân số Việt Nam từ 86 triệu hiện nay sẽ lên tới 100 triệu.

Thành ra trong sản xuất, trình độ kỹ thuật, trình độ sản xuất của nông dân đáng lạc quan, trình độ nghiên cứu giống lúa của các nhà khoa học Việt Nam cũng vậy. Nhưng mà yếu tố thiên nhiên khiến ta phải băn khoăn, lo lắng. Lo lắng cho vấn đề đảm bảo an ninh lương thực vì dân số tăng, diện tích trồng trọt giảm, sâu bệnh nhiều.

Vừa qua, Việt Nam xuất khẩu được sáu, bảy triệu tấn gạo. Nhưng mà sáu, bảy triệu tấn gạo cho tới năm 2020, liệu có đủ để nuôi dân hay không, thì đó là một việc rất đáng lo. Ngoài ra, Việt Nam xuất khẩu sáu, bảy triệu tấn gạo, đáp ứng hơn 20% lượng gạo xuất khẩu của thế giới, nhưng có duy trì được mức đó hay không thì còn tùy nhiều yếu tố.

Cho nên nói lạc quan, thì thấy có triển vọng, nhưng mà có rất nhiều băn khoăn cho các nhà khoa học. »

Tìm giống lúa mới thích nghi tốt với hệ quả của biến đổi khí hậu

Tại Viện nghiên cứu của ông Bảnh ở Cần Thơ, các nhà khoa học đang tìm kiếm giống lúa của tương lai, loại lúa có thể kháng cự lại các mối đe dọa mà vẫn đảm bảo năng suất cao cho nông dân. Mở cửa sau chiến tranh, với sự hỗ trợ của Ấn Độ, trung tâm nghiên cứu trải rộng trên phạm vi của cả một ngôi làng, với nhiều kỹ sư, hàng chục phòng thí nghiệm, những thửa ruộng và nhà kính dùng để thử nghiệm. Một nhà nghiên cứu giới thiệu :

« Đây là chỗ mà sau khi lai tạo, chúng ta tiến hành trồng các giống mới, rồi sau đó mới đem ra ruộng. Đây là những giống lúa hoang, lai trồng ở đây là để duy trì cái nguồn lúa hoang, mục đích làm vật liệu trong quá trình lai tạo giống. Đây là loại lúa chống chịu nóng, còn đây là giống kháng chịu mặn. Giai đoạn này là lúc thanh lọc những dòng có khả năng chống chịu mặn với những cấp độ mặn khác nhau. Còn đây là lọc ra những giống luá chống chịu ngập. »

Trung tâm Cần Thơ đã hoàn chỉnh hàng chục giống lúa mới, hầu thích nghi với tình huống. Một số đã được sử dụng ở Đồng bằng sông Cửu Long. Thậm chí còn có một giống được nông dân ở Bangladesh du nhập. Đối với bà Nguyễn Thi Lang, trưởng bộ môn di truyền, các thành tựu đó tuy nhiên chưa đủ :

« Thật ra thì cũng có những giống mà hiệu năng ổn định, năng suất cao, thí dụ như giống OM4900 rồi OM 61- 62. Mấy giống đó hiện được coi như là nền tảng lâu dài cho thương hiệu Việt Nam. Hiện nay, nói chung là bộ môn di truyền đã chọn ra các giống lúa bền vững, lâu dài cho bà con nông dân.

Xu hướng hiện nay là phát triển bền vững. Tất nhiên nói đến bền vững thì phải có những vùng đất phù hợp. Nói về phù hợp thì những vùng mặn quá phải có cái giống chống chiụ mặn mạnh hơn. Thành thử ra nó phải có khác một chút, chứ không phải là phù hợp với cái điều kiện đó. »

Ngoài ra, bà Lang còn nêu một yếu tố nguy hiểm đáng lưu ý. Đó là việc những người nuôi tôm đã đưa nước mặn vào ruộng, phá hủy cả một hệ thống sinh thái. Sau đó thì không còn trồng lúa được ở những thửa ruộng đó nữa :

« Chúng ta cũng biết rằng Đồng bằng sông Cửu Long là nơi rất năng động về kỹ thuật, năng động về sản xuất giống. Do đó về điều kiện canh tác, về điều kiện phân bón v.v… rồi về cơ cấu, như hệ thống canh tác, tức là người ta thay đổi thường xuyên.

Thí dụ như bây giờ người ta đang nuôi tôm. Tôm lỗ, người ta lại muốn trồng lúa. Nhưng khi nuôi tôm, người ta đã dùng đến nước biển, người ta đã mở một cánh đồng rất lớn để đưa nước biển vào. Bây giờ tôm lỗ, thì người ta muốn tiếp tục trồng lúa nếu không thì bỏ trắng. »

Đối với giới nghiên cứu, vấn đề hiện nay không phải chỉ tìm một giống lúa mà cả một gam lúa. Và trong cuộc chạy đua chống lại hệ quả của tình trạng biến đổi khí hậu, các nhà khoa học không chắc sẽ thắng. Những loại lúa thích ứng với nước phèn chẳng mấy chốc sẽ không còn đủ, cần phải tạo thêm nhiều giống mới, có sức đề kháng cao hơn nữa.

Nhiều nhà nghiên cứu như anh Lê Công Khoa, tại Đại học Bách khoa Hà Nội, cho rằng chỉ có lúa chuyển gen mới đủ sức thích ứng với môi trường nước phèn. Có điều Việt Nam là một nước xuất khẩu gạo, nếu lại làm ra loại gạo chuyển gen, thì sẽ gặp vấn đề ! Tuy nhiên, theo anh Khoa, nếu một nửa Đồng bằng sông Cửu Long mà bị phèn hóa, thì cần phải tính tới giải pháp kỹ thuật này để bảo đảm được an toàn lương thực.

Chính quyền Việt Nam dự báo là một nửa diện tích trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập, nếu mực nước biển dâng cao thêm 1 mét. Trường hợp này có thể xẩy ra từ đây đến năm 2100. Cho dù vậy, ông Lê Văn Bảnh ở Viện Lúa Cần Thơ, vẫn tin tưởng là sản lượng gạo của Việt Nam sẽ không bị giảm sụt, với một số điều kiện như hướng dẫn nông dân, hợp tác giữa các thành phần kinh tế, giũa các vùng ở Việt Nam và cả trong khu vực :

«Theo diễn tiến hiện nay, khí hậu biến đổi chậm chậm như vậy, thì mình từ từ tìm ra giải pháp thích nghi. Theo tôi thấy hiện nay nếu không có gì đột xuất, nghiã là không đột biến nhanh như bão lũ, động đất hay gì khác, thì việc ứng phó cũng khả thi. Bởi vì, thứ nhất, về mặt kỹ thuật, mình chọn những giống cây trồng thích nghi được với biến đồi khi hậu thí dụ như là khô hạn, ngập mặn, lũ úng.

Thứ hai là có giải pháp kỹ thuật, nghĩa là bố trí lại cơ cấu mùa vụ, các vùng sinh thái, vùng nào trồng những loại cây gì cho phù hợp thì sẽ tốt hơn.

Thứ ba là phải liên kết, không những liên kết «4 nhà» theo nghị định 80 của chính phủ Việt Nam, (liên kết giữa các nhà khoa học, để làm ra giống, về kỹ thuật canh tác thì nhà doanh nghiệp cũng như nhà nông phải liên kết với nhau, để tạo một cái mối liên kết với giới sản xuất lớn hầu mang lại hiệu quả tập trung) mà phải tiến tới việc liên kết vùng.

Bởi vì hệ quả biến đổi khí hậu như khô hạn, ngập mặn hoặc ô nhiễm môi trường không có biên giới. Do đó có sự liên kết khu vực mang lại hiệu quả cao. Chẳng hạn như sông Mêkông, không chỉ liên quan đến các vùng ở Việt Nam, mà còn ở cả Đông Dương. Thi dụ như ở Lào, họ xây đập như vậy thì có ảnh hưởng đến Việt Nam. Phải có sự liên kết cả khu vực để giải quyết, xử lý chuyện này. Nếu làm tốt cái đó thì sẽ được hiệu quả.»

Áp dụng giải pháp luân canh, không còn ưu tiên trồng lúa

Để bảo đảm tương lai và thu nhập cho nông dân, Việt Nam không có cách nào khác hơn là khuyên một số nông dân quay sang trồng cái gì khác hơn là lúa. Người ta bắt đầu giải thích là nên xen kẽ, chỉ làm 1 hay 2 vụ lúa mỗi năm, thời gian còn lại thì trồng rau quả. Đây là một phương thức canh tác bền vững hơn vì sẽ cho phép đất được phục hồi.

Ông Đinh Công Mười, kỹ sư nông nghiệp tại Cần Thơ, khuyên những người kém năng suất là hãy ngưng trồng lúa :

« Nó có mấy cái lý do. Thứ nhất là làm lúa bây giờ hiệu quả không cao. Giá lúa thấp. Nếu chuyển sang làm các loại hoa màu, không riêng gì dưa hấu, mà cả rau cải v.v.. thì hiệu quả kinh tế cao hơn.

Thứ hai là do biến đổi khí hậu, nếu trồng các cây màu thì sử dụng rất ít nước. Thành tựu lớn nhất là xài màn phủ. Màn phủ tốn rất ít nước. Bây giờ thì thấy cho nước uớt như vậy, nhưng mà khi cây dưa bắt đầu lớn, thì cũng không cần bơm nước, cây tự lấy nước bốc hơi từ lòng đất lên, đụng miếng màn phủ nước rớt trở lại do đó tiết kiệm được lượng nước rất nhiều.»

Tại An Bình, nông dân đã nghe theo những lời khuyên này. Ông Tư, cách đây hai năm, đã áp dụng phương pháp luân canh, trồng đậu nành, dưa hấu… Tuy nhiên, ông vẫn hoài nghi, sợ rằng kết quả không được mỹ mãn do thời tiết thất thường :

« Trước ở đây chỉ trồng lúa không thôi, ở đây đồng ruộng xanh luôn. Bây giờ thứ nhất, nước khó bơm, thứ hai, năng suất không cao. Có người hướng dẫn mới chuyển qua trồng dưa.

Thời tiết thay đổi, nước sông mặn hơn lúc trước. Thứ hai nữa, các năm trước, trồng dưa vào thời điểm này, bình thường không có gì, nhưng từ đây trở về sau, thời tiết cũng lạnh khác thường, dưa không phát triển được. Thời tiết khác hồi xưa. Thí dụ hồi xưa mưa, tới tháng qua Tết đâu có mưa, mưa trái mùa không có. Bây giờ mưa trái mùa và lạnh hơn xưa dữ lắm ».

Đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba khu vực bị tình hình biến đổi khí hậu đe doạ nhiều nhất trên thế giới. Nhân một cuộc họp tại Hà Nội vào tháng 11 năm ngoái, các chuyên gia quốc tế trong lãnh vực này đã tỏ ý lo ngại. Họ kêu gọi đề ra những biện pháp khẩn cấp để ngăn ngừa việc thiếu hụt lương thực trong những năm tới đây. Theo Liên Hiệp Quốc, để đáp ứng nhu cầu, cần phải sản xuất thêm khoảng 40% gạo từ đây đến năm 2030.

Như bài phóng sự cho thấy, tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nhiều nông dân đã bắt đầu đa dạng hóa sản xuất, cuộc sống của họ sung túc hơn. Ngoài lúa thì họ trồng thêm rau quả. Có người thì nuôi tôm, thu nhập cao hơn. Nhưng khó khăn vẫn đầy rẫy đối với họ : 2/3 nông dân chỉ sở hữu chừng 1 hay 2 hecta đất, thu nhập thấp kém. Mối lo hàng đầu của họ là chi phí gia tăng, đặc biệt là giá xăng dầu hay phân bón...

Chính phủ cũng giúp đỡ, cung cấp tín dụng, bảo hiểm trong trường hợp bị mất mùa, nhưng trong thực tế, nông dân trồng lúa phải tự bươn chải. Những người sản xuất nhỏ là thành phần bị đe dọa nhiều nhất vì không thể hiện đại hóa phương tiện canh tác, không trồng thêm được một thứ gì khác ngoài lúa, và không có kho để trữ lúa gạo thu hoạch được, chờ giá lên…

Vấn đề an toàn lương thực tại Việt Nam, một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, có nguy cơ trở thành nghiêm trọng trong tương lai. Tại Đại hội Lúa gạo Quốc tế tổ chức tháng 11 năm 2010 tại Hà Nội, thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng còn nhấn mạnh rằng an toàn lương thực góp phần duy trì ổn định cho đất nước.

Kết luận rút ra là Việt Nam cần cấp bách tiến hành một cuộc « cách mạng xanh » mới. Như nhiều chuyên gia dự báo, kể từ năm 2025, hệ quả của tình trạng trái đất hâm nóng sẽ tác hại mạnh mẽ đến nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt là đến vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

(Theo VOA Tiếng Việt)

7/5/11

Chuẩn bị cho Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ 2

Theo UBND tỉnh Sóc Trăng, Festival lúa gạo Việt Nam lần 2 do Sóc Trăng đăng cai tổ chức sẽ diễn ra từ ngày 8 đến 14/11 tại Trung tâm Văn hóa triển lãm Hồ Nước Ngọt, TP Sóc Trăng với chủ đề "Môi trường xanh cho cánh đồng vàng" và "Vinh danh hạt ngọc Việt".

 

Festival lúa gạo Việt Nam lần 2 - Sóc Trăng 2011 sẽ có nhiều hoạt động nhằm giới thiệu với bạn bè quốc tế và người dân trong nước các tư liệu lịch sử của nền văn minh lúa nước; những nông cụ, vật dụng sinh hoạt trong sản xuất nông nghiệp, đồng thời lồng ghép với các hoạt động giao lưu văn hóa, xúc tiến thương mại và đầu tư, tiếp thị truyền thông hàng hóa nông sản của tỉnh Sóc Trăng và Việt Nam với khách hàng quốc tế...

Các hoạt động chính trong tuần lễ Festival lúa gạo Sóc Trăng 2011 gồm có các nội dung chính như: Hội chợ triển lãm "Tái hiện mô hình công cụ sản xuất nông nghiệp từ thời khẩn hoang đến thời hiện đại"; "Mô hình phát triển của cây lúa Việt Nam qua các thời kỳ"; triển lãm "Hạt gạo làng ta vươn ra thế giới"; giới thiệu triển lãm của các Bộ, ngành, địa phương, đại sứ quán, tổng lãnh sự quán của một số nước...

Tại Festival còn có chuỗi các cuộc hội thảo như: "Đặc sản gạo Sóc Trăng - con đường phát triển lúa gạo chất lượng cao"; "Gạo Việt Nam: Ai bán, Ai mua?"; Định vị thương hiệu lúa gạo Việt Nam...

Các chương trình hội diễn, hội thi dự kiến tổ chức cùng Festival như: Chương trình bắn pháo hoa chào mừng, biểu diễn nghệ thuật đặc sắc; dân ca 3 miền; đêm hội tôn vinh và trao tặng danh hiệu cúp vàng xuất khẩu gạo; Hội thi "Gạo ngon thương hiệu Việt"; hội thi đờn ca tài tử; hội thi người đẹp miệt vườn; hội thi nhiếp ảnh Việt Nam với biến đổi khí hậu toàn cầu.

Đặc biệt, chương trình Festival lúa gạo diễn ra cùng với thời điểm lễ hội đua ghe ngo Oóc-Om-Boc của đồng bào Khmer Nam Bộ nên có thêm chương trình đua ghe ngo trên sông Maspero. Bên cạnh đó, lễ hội đâm cốm dẹp sẽ tái hiện làng nghề làm cốm dẹp tại Sóc Trăng, các trò chơi dân gian của đồng bào dân tộc Khmer...

Nguon: luagao.com
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...